fbpx

Tầm soát ung thư cho phụ nữ: Cần lưu ý

Tầm soát ung thư cho phụ nữ ở độ tuổi nào và nên lưu ý tầm soát những bệnh lý ung thư nào? Ai là nhóm phụ nữ có nguy cơ cao mắc ung thư?

1. Tầm soát ung thư cho phụ nữ

Tầm soát ung thư cho phụ nữ là phát hiện sớm nguy cơ ung thư ở nữ trước khi xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng đầu tiên của bệnh. Mỗi loại ung thư có yếu tố nguy cơ và diễn tiến sinh bệnh khách nhau , đặc biệt ở nữ chú trọng ung thư tại bộ phận sinh dục như: vú, buồng trứng, vòi trứng, tử cung (dạ con), cổ tử cung, âm đạo và bộ phận sinh dục ngoài. Đáng lo ngại là những cơ quan này lại có nguy cơ ung thư cao hơn nhiều lần so với các bộ phận khác trên cơ thể.

Tầm soát ung thư cho phụ nữ là phương pháp đơn giản tiết kiệm nhưng có hiệu quả to lớn và lâu dài

Tầm soát ung thư cho phụ nữ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì hầu hết các ung thư tại các bộ phận sinh dục này sẽ điều trị khỏi (tỷ lệ sống trên 5 năm cao) hoặc có thể được ngăn ngừa để không phát triển thành ung thư.

2. Những điều cần lưu ý

Tầm soát ung thư cho phụ nữ theo độ tuổi:

  • Phụ nữ 21 – 29 tuổi: tầm soát ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại tràng, ưng thư giáp.
  • Phụ nữ 30 – 39 tuổi: tầm soát ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại tràng.
  • Phụ nữ 40 – 49 tuổi: tầm soát ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại tràng.
  • Phụ nữ 50 – 64 tuổi: tầm soát ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại tràng, ung thư phổi.
  • Phụ nữ trên 65 tuổi: tầm soát ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại tràng, ung thư phổi.

Những yếu tố gây nguy cơ cao mắc ung thư sinh dục:

  • Tiền sử bản thân mắc ung thư buồng trứng, ung thư phúc mạc, ung thư vú hoặc ung thư tuyến giáp;
  • Tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú, buồng trứng, tuyến giáp hoặc phúc mạc;
  • Những người có xạ trị tại cơ quan sinh dục như ngực, vùng chậu trước đây;
  • Có kinh nguyệt sớm (trước năm 12 tuổi), mãn kinh muộn (sau 55 tuổi);
  • Thường xuyên sử dụng thuốc tránh thai hoặc dùng estrogen thay thế;
  • Không có con hoặc sinh con đầu lòng sau 30 tuổi;
  • Có chế độ ăn uống nhiều mỡ động vật, có thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng chất kích thích…

3. Những loại tầm soát ung thư cho phụ nữ?

Tầm soát Ung thư vú

Tầm soát ung thư vú là một phương pháp đơn giản có thể tự thực hiện mỗi ngày tại nhà bằng các phương pháp sờ nắn tự khám vú đơn giản được bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn.

Ngoài ra, tất cả phụ nữ trên 20 tuổi không có yếu tố nguy cơ cao mắc ung thư vú đều nên tầm soát mỗi 1 – 3 năm bằng các phương pháp soi chiếu đơn giản như:

Chụp nhũ ảnh (Mamography) là dùng tia X để chụp hình tuyến vú. Nhũ ảnh là phương pháp tốt nhất để phát hiện ung thư vú sớm, trước khi khối u đủ to để có thể cảm nhận hoặc gây ra triệu chứng.

Siêu âm vú sử dụng sóng âm năng lượng cao giúp các bác sĩ kiểm tra xác định các bất thường trong vú, giúp phát hiện những trường hợp ung thư vú giai đoạn sớm.

Khi sử dụng phối hợp với chụp X-quang tuyến vú, siêu âm làm tăng độ nhạy của việc sàng lọc.

Chụp MRI (cộng hưởng từ) giúp bác sĩ theo dõi một loạt các hình ảnh ở cả hai tuyến vú.

Ngoài ra bạn có thể tầm soát ung thư vú bằng xét nghiệm máu nhằm xác định nồng độ cao hoặc thấp bất thường của một chất được tiết ra tại tuyến vú được gọi là marker chẩn đoán ung thư vú.

Sinh thiết tế bào tuyến vú nhằm quan sát các mô và tế bào dưới kính hiển vi để tìm ra dấu hiệu ung thư thường áp dụng ở những trường hợp đã phát hiện khối u ở vú, các bác sĩ có thể lấy mẫu mô hoặc tế bào của khối u này để thực hiện xét nghiệm.

Chụp nhũ ảnh (mamography) là phương pháp phá hiện ung thư vú tốt nhất

Tầm soát Ung thư cổ tử cung

Tầm soát ung thư cổ tư cung là phát hiện sớm các tế bào cổ tử cung bất thường có nguy cơ phát triển thành tế bào ung thư hoặc phát hiện sớm virus có thể gây biến đổi tế bào cổ tử cung.

Hai phương pháp tầm soát ung thư cổ tử cung là phổ biến là xét nghiệm Pap (ThinPrep hoặc Pap Smear) và xét nghiệm HPV (một số chủng của virus này có thể biến tế bào cổ tử cung thành tế bào bất thường và gây ung thư.). Tuỳ độ tuổi và các yếu tố nguy cơ mà bác sĩ chuyên khoa sẽ có chỉ định phù hợp.

Phụ nữ từ 21 đến 65 tuổi không có yếu tố nguy cơ cao mắc ung thư cổ tử cung nên thực hiện xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung mỗi 3-5 năm/lần.

Xét nghiệm Pap giúp phát hiện sớm các tế bào cổ tử cung bất thường có nguy cơ phát triển thành tế bào ung thư

Tầm soát Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là sự phát triển bất thường một cách mất kiểm soát các tế bào tại buồng trứng làm hình thành nên khối u, khối u có thể xuất hiện ở một hoặc cả hai bên buồng trứng.

Ung thư buồng trứng là một loại ung thư nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao, tuy nhiên nếu được phát hiện sớm thì tỷ lệ chữa khỏi lên đến 90% và giảm rất nhanh qua từng giai đoạn bệnh.

Tỷ lệ điều trị khỏi ung thư buồng trứng giai đoạn sớm lên đến 90%

Những phương pháp tầm soát ung thư buồng trứng bao gồm:

  • Xét nghiệm máu tìm yếu tố CA-125: CA-125 là một protein có nồng độ trong máu cao hơn ở những người mắc ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, mức CA 125 có thể tăng cao ở những người mắc u xơ tử cung, xơ gan, nhiễm trùng vùng chậu, ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú, ung thư phổi và ung thư tuyến tụy và đang trong chu kỳ kinh nguyệt… Do đó, khi xét nghiệm thấy chỉ số CA-125 cao, bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân thực hiện thêm các phương pháp khác.
  • Siêu âm vùng chậu: sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của các cơ quan trong xương chậu, bao gồm buồng trứng nhằm phát hiện vị trí và kích thước các khối bất thường nếu có.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp X-quang để đánh giá mức độ bệnh và giai đoạn xâm lấn của khối u trong cơ thể.

Những phụ nữ trên 50 tuổi, chưa từng mang thai, có người thân mắc ung thư sinh dục nữ hoặc đang có những triệu chứng cảnh báo mắc ung thư buồng trứng như đau bụng dưới, sụt cân nhanh, chán ăn, đầy bụng, buồn nôn,… đều nên đi khám tầm soát ung thư buồng trứng mỗi năm ít nhất là một lần.

Ngoài ra phụ nữ là nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc ung thư đại trực tràng, ung thư tuyến giáp thậm chí là ung thư phổi… với trình độ khoa học và y học phát triển như hiện nay, tất cả các loại ung thư nàu đều có thể phát hiện sớm nhờ xét nghiệm phát hiện sớm các yếu tố bất thường hay thông qua kiểm tra phim X-quang và hình ảnh siêu âm nhằm tăng đáp ứng, tiết kiệm thời gian và chi phí điều trị bệnh.