fbpx

UNG THƯ HẠCH BẠCH HUYẾT (LYMPHOMA)

Là bệnh lý do sự tăng sinh quá mức của tế bào bạch cầu lympho, với dấu hiệu ban đầu mơ hồ và không đau. Bài viết trình bày những nguyên nhân, chẩn đoán và tiên lượng của ung thư Hạch bạch huyết

BS. CKII Nguyễn Văn Tiến – Trưởng khoa ngoại 1 – Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM chia sẽ trên trang facebook cá nhân về ung thư Hạch bạch huyết (Lymphoma)

Ung thư hạch bạch huyết, do sự tăng sinh mất kiểm soát của tế bào bạch cầu lympho.

Bệnh U lympho Hodgkin được bác sĩ Thomas Hodgkin mô tả lần đầu tiên năm 1832. Bệnh Hodgkin là một trong những loại ung thư hạch bạch huyết (lymphoma), là ung thư có nguồn gốc từ hệ bạch huyết. Ung thư hạch bạch huyết gồm hai loại chính: Hodgkin và Không-Hodgkin.

Ung thư hạch bạch huyết, do sự tăng sinh mất kiểm soát của tế bào bạch cầu lympho

Tế bào bạch cầu lympho có mặt trong hệ thống bạch huyết, một thành phần trong mạng lưới chống nhiễm trùng của cơ thể.

Mạch bạch huyết dẫn bạch huyết, một chất lỏng không màu sắc, chứa những tế bào lympho, hiện diện khắp cơ thể. Trong mạng lưới này, có những bộ phận nhỏ gọi là hạch bạch huyết. Các hạch bạch huyết là các hạt nhỏ có kích thước từ vài mm đến hơn một cm nằm khắp cơ thể. Mỗi hạch có kích thước từ đầu đinh ghim đến bằng hạt đậu, thường xếp thành nhóm hay chuỗi hạch. Từng nhóm hạch bạch huyết nằm trong nách, hai bên bẹn, cổ, ngực, và ổ bụng. Hạch bạch huyết là nơi khống chế và loại trừ những vi sinh vật cùng các chất nguy hại cho cơ thể.

Ngoài các hạch bạch huyết, lá lách, tuyến ức (thymus), amidan và tủy xương là những thành phần khác của hệ bạch huyết. Dạ dày, hỗng tràng và da cũng có những tế bào và mô bạch huyết. U lympho có thể ảnh hưởng đến những vùng này cũng như ảnh hưởng tới những cơ quan khác trong cơ thể.

Tế bào lymphô nằm trong hạch bạch huyết, nếu sự phát triển bị rối loạn và trở thành ung thư, thì gọi là ung thư nguyên phát tại hạch. Phân biệt với hạch do ung thư di căn. Các tế bào lymphô ác tính không chỉ hiện diện ở các hạch bạch huyết mà còn ở những nơi khác. Khi bị ung thư Hodgkin, các tế bào trong hệ bạch huyết trở nên bất thường, chúng sinh sôi nảy nở rất nhanh và sinh sản vô trật tự. Hệ bạch huyết hiện diện ở nhiều cơ quan, bộ phận của cơ thể, do đó khi ung thư bạch huyết xuất hiện, nó có thể xuất hiện tại bất cứ vị trí nào của cơ thể.

Bệnh Hodgkin có thể khởi phát từ một hay nhiều hạch bạch huyết, hoặc từ một bộ phận chứa hạch bạch huyết như lách hoặc tủy xương. Loại ung thư này thường phát triển từ nhóm hạch bạch huyết này sang nhóm hạch kế cận. Ví dụ, bệnh Hodgkin khởi phát từ hạch bạch huyết ở cổ sẽ lan đến những hạch bạch huyết ở vùng lân cận như vùng xương đòn, sau đó lan đến những hạch bạch huyết dưới nách và lồng ngực. Cuối cùng, bệnh sẽ lan rộng đến khắp cơ thể.

Theo Tổ chức ghi nhận ung thư toàn cầu GLOBOCAN 2018, trên thế giới có gần 510.000 người mắc mới (chiếm gần 6%) và gần 250.000 người tử vong (chiếm gần 2,6%).

Tại Việt Nam, năm 2018 có hơn 3.500 trường hợp mới mắc và hơn 2.100 trường hợp tử vong, đứng hàng thứ 14 trong các loại ung thư. Đặc biệt, hiện nay tỷ lệ gặp ở người cao tuổi có xu hướng gia tăng. Bệnh thường biểu hiện tại hạch (nên còn gọi là ung thư hạch) chiếm trên 60% trường hợp. U lympho có thể biểu hiện ngoài hạch ở vị trí, cơ quan khác nhau trong cơ thể như da, đường tiêu hóa (dạ dày, đại trực tràng…), vòm mũi họng, lưỡi, thần kinh trung ương, hốc mắt…

Hệ bạch huyết của cơ thể

1. Nguyên nhân

Nguyên nhân của ung thư hạch hiện nay chưa được xác định chắc chắn. Nhưng người ta phát hiện các đột biến gen khiến các tế bào bạch cầu lympho tăng sinh bất thường không kiểm soát, tạo ra nhiều tế bào bệnh lý, khiến các hạch bạch huyết, gan, lách sưng to.

Tuy nguyên nhân gây bệnh Hodgkin chưa biết rõ, cũng đã xác định được một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh:

• Tuổi và giới tính: Mặc dù ung thư hạch có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng nguy cơ mắc bệnh thường gặp ở những người tuổi từ 15-34 và trên 55 tuổi, nam nhiều gấp đôi nữ

• Người có thân nhân bị Hodgkin có nguy cơ bị ung thư Hodgkin cao hơn những người khác

• Nhiễm Virus Epstein-Barr (EBV) hoặc nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh Hodgkin.

• Người bị suy yếu hệ miễn dịch do bất kỳ nguyên nhân nào (HIV/AIDS, do sử dụng thuốc, sau đợt điều trị ung thư, do mẹ truyền sang con…)

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp bệnh Hodgkin mà không thấy các yếu tố nguy cơ trên.

Ung thư hạch bạch huyết gặp ở trẻ em và người lớn

2. Triệu chứng lâm sàng

Hạch phì đại nhưng không đau (hạch ở cổ, nách, bẹn, …): ở giai đoạn sớm, hầu hết bệnh nhân không có cảm giác đau. Cảm giác đau xuất hiện khi bệnh ở giai đoạn tiến triển. Các hạch bạch huyết phát triển lớn dần, có độ cứng trung bình, đồng nhất. Các hạch này thường không bám dính vào da, có thể di chuyển được dưới da. Khi bệnh ở giai đoạn cuối, các hạch phát triển to, kết hợp lại thành 1 khối. Hạch to có thể chèn ép đường thở gây khó thở, chèn ép mạch máu gây phù chi và khó vận động.

Triệu chứng nhóm B bao gồm các triệu chứng: Sốt (nhiệt độ trên 38oC), mệt mỏi, chán ăn, đổ mồ hôi đêm, sụt cân đột ngột không rõ lý do (5-10% trọng lượng cơ thể trong 3-6 tháng).

Thiếu máu.

Triệu chứng thần kinh (nếu U lympho xâm lấn hệ thần kinh trung ương)

Các triệu chứng này không nhất thiết phải do bệnh Hodgkin gây ra, nhưng nên đi khám để tìm nguyên nhân.

Đừng đợi đến khi hạch bạch huyết trở nên đau. Bệnh Hodgkin lúc khởi đầu thường không gây đau.

3. Chẩn đoán

Bên cạnh việc thăm khám lâm sàng, cần kết hợp thêm một số xét nghiệm cần lâm sàng để chẩn đoán xác định như:

• Sinh thiết hạch (cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ hạch) để quan sát hình thái tế bào và làm các xét nghiệm nhuộm hóa mô miễn dịch để xác định dòng tế bào bệnh lý.

• Chọc hút tủy xương, sinh thiết tủy: để xác định sự hiện diện các tế bào ung thư trong tủy.

• Chụp CT-scanner, PET/CT-scanner: xác định hạch ung thư trong các cơ quan nội tạng, xác định giai đoạn bệnh.

• Các xét nghiệm thường quy khác như công thức máu, nhóm máu, Siêu âm tim- bụng, Điện tim, …

• Chọc dò dịch não tủy nếu nghi ngờ tế bào Lymphoma xâm lấn thần kinh trung ương.

Thăm khám Lâm sàng kết hợp một số cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán ung thư Hạch bạch huyết

4. Tiên lượng

Tùy thuộc loại ung thư và các giai đoạn khác nhau mà tiên lượng mỗi bệnh nhân khác nhau.

U lympho Hodgkin: Tỉ lệ sống sót sau 5 năm chung là 87%. Những con số này chỉ áp dụng cho ung thư được chẩn đoán lần đầu, không áp dụng cho ung thư phát triển, lan rộng hoạc tái phát sau điều trị. Tỷ lệ sống sót được phân nhóm dựa trên mức độ di căn của ung thư. Bên cạnh đó, tuổi, tình trạng sức khỏe, mức độ đáp ứng với điều trị và các yếu tố tiên lượng khác cũng có thể ảnh hưởng đến tiên lượng của người bệnh.

U lympho không Hodgkin: Tỷ lệ sống sót sau 5 năm chung là 72%. Nhưng cần lưu ý là tỷ lệ sống sót có thể rất khác nhau đối với các loại trong nhóm U lympho không Hodgkin và giai đoạn khác nhau của ung thư hạch. Có hai loại u lympho không Hodgkin phổ biến – u lympho tế bào B lớn lan tỏa và u lympho nang. Tỉ lệ sống sót chung sau 5 năm của U lympho tế bào B lớn lan tỏa là 63%. Tỉ lệ sống sót chung sau 5 năm của U lympho nang là 88%.

5. Điều trị

Tùy vào từng loại ung thư hạch và giai đoạn mà có những phương pháp điều trị khác nhau. Mục tiêu của điều trị là tiêu diệt càng nhiều tế bào ung thư càng tốt và đạt được lui bệnh. Các phương pháp điều trị chính cho u lympho không Hodgkin là:

• Hóa trị: sử dụng thuốc hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư.

• Xạ trị: sử dụng tia phóng xạ năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư.

• Liệu pháp miễn dịch: sử dụng hệ thống miễn dịch của cơ thể để tấn công các tế bào ung thư.

• Liệu pháp nhắm trúng đích: nhắm vào bản chất của tế bào ung thư hạch (gen, protein chuyên biệt) để hạn chế sự phát triển, phân chia, lan rộng của chúng.

Các phương pháp điều trị chính cho bệnh u lympho Hodgkin là:

• Hóa trị liệu

• Xạ trị

• Liệu pháp miễn dịch

Nếu những phương pháp điều trị này không hiệu quả, người bệnh có thể phải ghép tế bào gốc. Đầu tiên, điều trị hóa trị liều rất cao nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư, đồng thời cũng tiêu diệt các tế bào gốc trong tủy xương để tạo ra các tế bào máu mới. Sau khi hóa trị, người bệnh sẽ được ghép các tế bào gốc bình thường để thay thế những tế bào đã bị phá hủy. Có thể thực hiện hai loại ghép tế bào gốc:

• Tự ghép tế bào gốc: sử dụng tế bào gốc của chính bản thân người bệnh.

• Dị ghép tế bào gốc: sử dụng tế bào gốc của anh chị em ruột hoặc tìm người cho tế bào gốc phù hợp.

Ngoài ra, cần chăm sóc cải thiện chất lượng cuộc sống:

• Duy trì chế độ sống lành mạnh, hoạt động thể dục phù hợp sức khỏe.

• Bỏ thuốc lá, rượu bia.

• Điều trị các bệnh đồng mắc.

• Tái khám đầy đủ và tuân thủ các chỉ định điều trị của bác sĩ.